Những người con ưu tú của biển
Bất chấp bão tố, “tàu lạ” và những khó khăn chồng chất, từ bao đời nay ngư dân Việt Nam vẫn bám chắc biển Đông mưu sinh và khẳng định chủ quyền biển đảo. Họ là những ngư dân bình thường nhưng có tinh thần thép, sẵn sàng đối mặt với thách thức, hiểm nguy, xứng đáng là người con ưu tú, là cây phong ba, cột mốc sống mạnh mẽ, kiêu hùng trước bão…
BÁM CHẮC BIỂN ĐÔNG
Sinh ra và lớn lên ở huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), từ nhỏ Mai Phụng Lưu – người được mệnh danh là “sói biển” trên biển Đông – đã theo cha giong thuyền ra biển Hoàng Sa, Trường Sa mưu sinh. Đối với Lưu, vùng biển gần các hòn đảo Phú Lâm, Hai Trụ, Tri Tôn, Bom Bay… (thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam) là ngư trường chính quen thuộc – nơi mà các thế hệ cha ông đi trước đã khẳng định chủ quyền và hàng chục năm nay, anh đã gắn bó máu thịt.
Một buổi chiều đầu tháng 8-2012, bên chén rượu nồng cùng tôi, Mai Phụng Lưu đã bộc bạch: “Không giấu gì chú, sau bốn lần bị phía Trung Quốc bắt bớ, tịch thu tàu thuyền, ngư cụ, gia đình tôi rơi vào hoàn cảnh trắng tay. Vừa rồi, Ngân hàng Đông Á có tạo điều kiện cho vay 300 triệu đồng tiền vốn tín dụng với lãi suất 14%/năm và sẽ trả trong vòng ba năm để gia đình tôi đóng tàu mới. Sau nhiều đêm nằm trằn trọc suy nghĩ, vợ chồng tôi đã quyết định vay thêm mấy trăm triệu đồng nữa đóng một con tàu mới, ra Hoàng Sa mưu sinh, thực hiện chủ quyền biển đảo”.

Dù gặp muôn vàn khó khăn, thử thách, những người con ưu tú của huyện đảo Lý Sơn vẫn bám chắc biển Đông mưu sinh
Tiếp chuyện cùng chúng tôi, “sói biển” Mai Phụng Lưu khẳng định lập trường của mình: “Sau mỗi lần bị tàu lạ hiếp đáp, bắt bớ, gia đình tôi rơi vào tình cảnh nợ nần, nghèo càng nghèo thêm nhưng điều đó không làm tôi sợ hoặc sờn lòng. Nói thật, dù có phải tán gia bại sản hoặc bỏ mạng trên biển Hoàng Sa, tôi và những chiến hữu của mình vẫn giong thuyền ra đó đánh bắt. Hoàng Sa là một phần máu thịt của quê hương, là của Việt Nam mà. Ai không đi cho đặng…”.
Gia đình Mai Phụng Lưu là gia đình truyền thống đã có bảy đời gắn bó máu thịt với nghề đánh bắt hải sản trên vùng biển Hoàng Sa. Và hiện tại, bảy anh ruột Mai Phụng Lưu cùng hai người con (một trai, một rể) đang ngày đêm giong thuyền ra biển Hoàng Sa mưu sinh.
Đầu tháng 8-2012, trong chuyến công tác, tôi may mắn gặp được lão ngư Võ Văn Hùng (71 tuổi, trú thôn Thuận An, xã Duy Nghĩa, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam) – một trong số người con ưu tú của xứ Quảng đã trở về sau ngày cầm súng bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam năm 1988 tại vùng biển Lô Lin – Gạc Ma. Kể lại quá khứ của mình, giọng ông Hùng trầm ngâm: “Trong hai năm 1987 – 1988, tôi và đồng đội của mình đã anh dũng cầm súng, chiến đấu giữ vững chủ quyền biển đảo. Riêng ngày 14-3-1988 “ngày định mệnh lịch sử”, tại vùng biển Lô Lin – Gạc Ma đã có ít nhất 74 cán bộ, chiến sĩ Hải quân Việt Nam ngã xuống để giữ từng tấc đất, vùng biển của tổ tiên…”.
ừ ý thức được giá trị xương máu của cha ông, đồng đội đã ngã xuống cho “một tượng đài lịch sử được dựng lên trên biển Đông”, sau ngày trở về lão ngư Võ Văn Hùng vẫn tiếp tục bám chắc vùng biển thuộc chủ quyền của Tổ quốc để mưu sinh. Hàng chục năm nay, cứ vào mùa biển lặng, ông Hùng và con cháu lại giong thuyền ra biển Trường Sa, Hoàng Sa đánh bắt con tôm, con cá, thực hiện chủ quyền biển đảo. Họ như những cây phong ba, cột mốc sống vững chãi trên biển Đông.
TẤT CẢ CHO BIỂN TRỜI TỔ QUỐC
Một ngày đầu tháng 8-2012, tôi đã về làng Bình Tịnh (xã Bình Minh, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam). Đây là ngôi làng “đặc biệt” và cũng là ngôi làng “điển hình” cho nỗi mất mát đau thương của nhiều làng miền biển Việt Nam. Cơn bão Chan Chu kinh hoàng hồi tháng 5-2006 trong phút chốc đã cuốn mất tích 87 ngư dân Bình Tịnh trên biển Hoàng Sa. Chỉ bảy người may mắn tìm được xác còn tất cả trôi dạt theo nghìn trùng. Lúc tôi về thăm, những gì còn lại vẫn là nỗi đau nhưng trong tâm khảm của nhiều người mẹ, người vợ bất hạnh vẫn ánh lên một niềm tin, nghị lực sống can trường.

“Sói biển” Mai Phụng Lưu khẳng định quyết tâm vẫn sẽ giong thuyền ra biển Hoàng Sa đánh bắt, thực hiện chủ quyền biển đảo nước nhà
Từ ngày chồng và hai đứa con trai bị bão Chan Chu cuốn mất tích trên vùng biển Hoàng Sa, bà Nguyễn Thị Hoa đã kìm nén nỗi đau tột cùng để sống, nuôi đứa cháu nội mồ côi được học hành, khôn lớn từng ngày. Lúc gặp tôi, bà ôm đứa cháu vào lòng nghẹn ngào tâm sự: “Chồng, con tôi đã mất tích ở ngoài kia (Hoàng Sa – P.V) rồi và mãi mãi họ không bao giờ về nữa… Trách nhiệm của tôi là phải sống khỏe mạnh để nuôi đứa cháu nội khôn lớn, thành đạt. Dù có khó khăn đến mấy, tôi cũng cho cháu ăn học thành tài…”.
Ở “làng góa phụ” Bình Tịnh không chỉ riêng trường hợp bà Hoa mà còn có gần 40 phụ nữ cùng chung cảnh ngộ như thế. Nếu như trong quá khứ, họ từng tất bật chuẩn bị hành lý tiễn chồng, con ra biển mưu sinh thì giờ đây họ lại kìm nén nỗi đau thương, mưu sinh trong khó khăn, nuôi con, cháu – niềm hy vọng còn lại lớn lên.
Về thôn Gành Cả (xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi), tôi cũng chứng kiến nhiều hoàn cảnh tương tự. 100% ngư dân Gành Cả theo nghề biển nhưng những gia đình khấm khá, giàu lên từ biển thì ít mà người nghèo khổ, mất mát, tang thương vì bão tố, hiểm nguy trên biển Hoàng Sa thì nhiều. Tuy nhiên, ngư dân Gành Cả vẫn một lòng bám biển, coi biển là nhà, là nơi khẳng định chủ quyền, là chốn mưu sinh từ bao đời nay của cha ông và nay họ phải tiếp tục ra đó thực hiện sứ mệnh cao cả: đánh bắt trên vùng biển của Tổ quốc.

Chồng, con đi biển mưu sinh, phụ nữ ở quê nhà đan lưới
Gia đình mà chúng tôi đến thăm đầu tiên trong thôn là chị Nguyễn Thị Xí (39 tuổi). Chị Xí có chồng là anh Phạm Xí (40 tuổi) đã bị cơn bão số 1 cuốn mất tích trên biển Hoàng Sa cùng 10 ngư dân khác ở tỉnh Phú Yên hồi tháng 7-2010. Từ ngày chồng “đi xa”, mỗi buổi chiều, lúc thủy triều rút xuống để lại con ốc, con nghêu, cọng rau nằm trơ mình trên mặt cát, chị Xí lại cầm rổ ra lượm nhặt về bán lấy tiền mua gạo, nuôi ba đứa con thơ ăn học.
Điều gì đã khiến bà Hoa, chị Xí và bao phụ nữ khác ở vùng biển Quảng Nam, Quảng Ngãi can trường như thế? Phải chăng đó chính là sức mạnh của niềm tin, là tinh thần yêu nước, là tinh thần không nhượng bộ, tinh thần đoàn kết và sự thủy chung son sắt của người phụ nữ Việt Nam. Cùng với thời gian, lớp lớp người Việt đã giong thuyền ra biển mưu sinh và mãi mãi không trở về. Đồng nghĩa với điều đó là những ngôi mộ gió lại được lập nên trên cát nhiều thêm, nhiều thêm nữa… Và nhiều người vợ góa chồng, nhiều đứa trẻ thơ mất cha phải gánh chịu nỗi đau bằng tinh thần, ý chí kiên cường như thế. Họ là những ngư dân lao động bình thường nhưng ngời sáng trong tâm thức người Việt và bạn bè quốc tế bởi tinh thần Việt…
NGUYÊN DŨNG – HIỂU ANH(CAND)
Vui lòng cho biết ý kiến của bạn




















0 Phản hồi